Thoát vị đĩa đệm cột sống và những di chứng

>> Phẫu thuật thoát vị đĩa đệm có nguy hiểm?

>> Hỏi về Garbapia Capsule

Thoát vị đĩa đệm xảy ra bất kỳ phần nào của cột sống như phần cột sống cổ, cột sống thắt lưng, trong đó chủ yếu thoát vị cột sống thắt lưng với các triệu chứng đau, tê mỏi vùng thắt lưng lan xuống mông, đùi và cẳng chân, cảm giác yếu cơ,… Ðây là căn bệnh rất phổ biến và có thể gây tàn phế nếu không được điều trị. Do đó người bệnh cần đi khám và điều trị sớm khi thấy các triệu chứng của bệnh, không nên chủ quan, nhất là ở một số đối tượng có nhiều nguy cơ như: những người thường xuyên làm việc nặng nhọc, công nhân bốc vác, chơi thể thao, tư thế ngồi học, làm việc sai cách, mắc các bệnh lý cột sống như gai đôi cột sống, gù vẹo, thoái hóa cột sống,…

Thoát vị đĩa đệm là gì?

Cột sống do nhiều đốt ghép lại. Giữa các đốt sống lại được ngăn với nhau bởi những đĩa đệm. Đĩa đệm nằm giữa các đốt sống, có tác dụng như một gối đỡ đàn hồi, giúp cột sống thực hiện các động tác cúi, ưỡn, nghiêng, xoay. Cấu trúc của đĩa đệm bao gồm có bao xơ bên ngoài, cấu tạo từ các vòng sợi dai, chắc và nhân nhầy ở dạng keo bên trong. Khi cấu trúc bao xơ bị yếu do đứt một số vòng sợi thì áp lực nhân nhầy sẽ đẩy chỗ đó phình ra khỏi vị trí bình thường, nhân keo của đĩa đệm thoát ra ngoài gọi là thoát vị đĩa đệm.

 Nhận biết bệnh dựa trên các biểu hiện nào?

Cơn đau do thoát bị đĩa đệm thường tái phát nhiều lần, mỗi đợt kéo dài khoảng 1-2 tuần, sau đó lại khỏi. Có khi đau âm ỉ nhưng thường đau dữ dội, đau tăng khi ho, hắt hơi, cúi. Ngoài ra còn có cảm giác kiến bò, tê cóng, kim châm tương ứng với vùng đau. Đối với thoát vị đĩa đệm cột sống cổ, thường có triệu chứng như: Đau vùng cổ, gáy, vai, dọc theo cánh tay. Tê cánh tay, bàn tay, các ngón tay. Teo, yếu cơ cánh tay, ngón tay. Đối với thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng, thường có triệu chứng như: Đau, tê vùng thắt lưng, mông, dọc theo đùi, cẳng chân, bàn chân. Teo, yếu cơ đùi, cẳng chân, bàn chân. Dần dần, đau trở nên thường xuyên, kéo dài hàng tháng nếu không được điều trị. Khả năng vận động của bệnh nhân bị giảm sút rõ rệt.

Những di chứng của bệnh

Thoát vị đĩa đệm chèn ép vào rễ thần kinh, tủy sống gây các triệu chứng đau, tê, teo cơ, liệt cơ. Khi rễ thần thần kinh bị tổn thương thì bệnh nhân khó vận động các chi. Nếu tổn thương thần kinh cánh tay thì bệnh nhân không thể nhấc tay hay khó gấp, duỗi cánh tay, khả năng lao động và sinh hoạt bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Bệnh có thể để lại những hậu quả và những biến chứng nguy hiểm cho người bệnh. Người bệnh có thể bị tàn phế do bị liệt trong trường hợp đĩa đệm thoát vị chèn ép tuỷ cổ. Khi bị chèn ép các dây thần kinh vùng thắt lưng cũng có thể dẫn đến đại tiểu tiện không tự chủ do rối loạn cơ tròn. Các chi dần bị teo cơ, có thể mất khả năng lao động và vận động.

Những trường hợp dễ bị thoát vị đĩa đệm?

Có nhiều nguyên nhân gây thoát vị đĩa đệm cột sống. Thứ nhất do chấn thương cột sống như tai nạn giao thông, tai nạn lao động,… Thứ hai là ở những người trên 30 tuổi, cột sống bắt đầu thoái hóa đĩa đệm thường không còn mềm mại, nhân nhày có thể bị khô, vòng sụn bên ngoài xơ hóa, rạn nứt và có thể rách khi nếu có một lực tác động mạnh vào cột sống. Hay gặp nhất là việc bê vác vật nặng sai cách. Thay vì ngồi xuống bê vật rồi từ từ đứng lên, nhiều người có thói quen đứng rồi cúi xuống, nhấc vật nặng lên. Việc mang vác nặng sai tư thế này dễ gây chấn thương đốt sống lưng. Nhiều thói quen sinh hoạt hàng ngày cũng ảnh hưởng xấu tới xương khớp như tư thế ngồi làm việc không đúng cách gây cong vẹo cột sống, tập thể dục không đúng cách gây thoái hoá khớp, trật khớp… Ngoài ra, các bệnh lý cột sống bẩm sinh như gai đôi cột sống, gù vẹo, thoái hóa cột sống cũng là các yếu tố thuận lợi gây thoát vị đĩa đệm

 Các phương pháp điều trị

Chụp Xquang cột sống thông thường không phát hiện được thoát vị đĩa đệm. Để chẩn đoán chính xác thoát vị đĩa đệm người bệnh cần chụp bao rễ cản quang, chụp cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ.

Khi có kết luận thoát vị đĩa đêm, tùy thuộc vào mức độ và những triệu chứng lâm sàng mà bác sĩ quyết định điều trị nội khoa hay chỉ định phẫu thuật. Đối với thoát vị mức độ nhẹ có thể dùng thuốc, thực hiện các bài tập, vật lý trị liệu phục hồi chức năng. Nếu thoát vị nặng, khối thoát vị chèn ép vào dây thần kinh có thể gây biến chứng như: liệt, teo cơ, rối loạn cơ tròn, thì phẫu thuật là phương pháp giúp bệnh nhân giảm chèn ép và tránh các biến chứng do thoát vị gây ra. Hiện nay có nhiểu phương pháp điều trị như làm giảm áp lực nhân đĩa đệm như: đưa sóng radio vào vùng đĩa đệm thoát vị làm cho khối thoát vị bị thu nhỏ, trở về vị trí cũ, giải phóng thần kinh bị chèn ép; dùng hiệu ứng nhiệt của tia laser để hủy phần đĩa đệm thoát vị, giải phóng chèn ép thần kinh; Lấy nhân đệm bằng phương pháp mổ hở, mổ nội soi,…

Cần có biện pháp phòng tránh

Thoát vị đĩa đệm gây nên những cơn đau khó chịu, thường xuyên tái phát, làm giảm khả năng vận động, ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống. Nếu không điều trị bệnh có thể gây biến chứng nặng nề, do đó người bệnh cần đi khám chuyên khoa khi có dấu hiệu của bệnh để được điều trị kịp thời. Không nên chủ quan cho đó là do tuổi tác, lao động nặng nhọc mới bị đau lưng, đến khi bệnh tiến triển nặng, người bệnh không thể chịu nổi các cơn đau thường xuyên hoặc xuất hiện biến chứng mới đi khám thì rất khó điều trị và điều trị rất tốn kém, thậm chí có thể bị tàn phế. Do đó, cần phải có biện pháp phòng tránh thoát vị đĩa đệm như: Luôn duy trì chế độ ăn uống, sinh hoạt, làm việc, nghỉ ngơi hợp lý; thường xuyên tập thể dục rèn luyện để có một cơ thể khỏe mạnh và cột sống vững chắc. Giữ gìn tư thế cột sống đúng trong sinh hoạt hằng ngày (ngồi học, ngồi làm việc, mang vác vật nặng đúng cách…). Hạn chế mọi nguy cơ bị chấn thương khi lao động, tham gia giao thông, các vận động, động tác thể thao quá mức và kéo dài,…

 Bác sĩ Trọng Nghĩa

Thoái vị đĩa đệm, đau lưng nên uống thuốc gì?

>> Tập yoga tốt cho thoát vị đĩa đệm

>> Hạn chế mổ trong điều trị thoát vị đĩa đệm

Tôi 53 tuổi,cách đây 5 năm tôi bị đau thắt lưng không thể đi lại nhiều được. Chẩn đoán y khoa cho tôi biết thoát vị đệm lưng nhẹ L2 L3 sau khi chụp MRI. Tôi chữa bằng thuốc và tập VLTL nên khỏi trong vòng 3 tháng,nay không biết đi đứng nằm ngồi có sai tư thế không nhưng nay tôi lại cẳn thấy hơi đau đau ở chổ vùng cũ ở lưng. Xin các bác sĩ cho tôi biết nên uống thuốc gì,chữa ở đâu , nên tránh những gì,hiện nay tôi đang làm việc nên ngồi lâu cảm thếy không thoải mái lắm,lần đau trước tôi được có dùng thuốc Mobic trong vòng 1 tuần kèm với các thuốc khác do bác sĩ kê toa. Trân trọng cảm ơn (ĐỖ HỮU CHÍNH) 

Trả lời:

Đau lưng có nhiều nguyên nhân, trong đó đáng ngại nhất là tình trạng thoát vị đĩa đệm (TVĐĐ), chủ yếu gây đau vùng thắt lưng, cản trở hầu như mọi sinh hoạt thường nhật của bệnh nhân. Điều trị TVĐĐ có nhiều phương cách.

Điều trị TVĐĐ thắt lưng

Điều trị nội khoa:
– Chế độ vận động: trong thời kỳ cấp tính, bệnh nhân cần nằm nghỉ tại giường 1-2 tuần.
– Điều trị vật lý: tia hồng ngoại, bó paraphin, chườm nóng bằng cám rang, muối rang hoặc ngải cứu.
– Dùng dòng điện: sóng ngắn, điện xung, điện phân.
– Châm cứu giảm đau, tia lase
– Dùng các thuốc giảm đau, chống viêm, vitamin nhóm B. Phong bế tại chỗ bằng novocain.
Phương pháp nắn chỉnh cột sống: kết hợp giữa y học hiện đại và y học cổ truyền. Người thầy thuốc chỉ dùng tay để chữa bệnh

Thể dục điều trị: sau thời gian cấp tính, cần tiến hành thể dục điều trị, nhằm cải thiện chức năng của các cơ giữ tư thế cho cột sống, hạn chế biến dạng cột sống, chống teo cơ.
Làm việc trong một tư thế cố định cột sống, khối cơ lưng và dây chằng sẽ ít hoạt động gây ứ đọng chất trung gian hoá học trong cơ, đồng thời mạch máu kém lưu thông nên tình trạng nuôi dưỡng khu vực cột sống không được đảm bảo, cũng gây đau lưng cấp. Người bệnh có cảm giác đau nhức âm ỉ dọc cột sống, các động tác cúi, ngửa, xoay hơi khó khăn. Nằm nghỉ ngơi sau 3 ngày bệnh sẽ khỏi. Có thể chườm nóng lạnh, xoa bóp hoặc kéo giãn trong vòng 24 giờ đầu, tình trạng đau sẽ đỡ.

Mobic chỉ là thuốc giảm đau điều trị triệu chứng đau mà không điều trị khỏi bệnh hoàn toàn. Khi không dùng thuốc triệu chứng đau có thể trở lại do bệnh chưa khỏi hoàn toàn.

Bạn nên đến trung tâm y tế chuyên khoa để kiểm tra và được các bác sĩ chuyên khoa tư vấn về trường hợp bệnh của bạn.

Chúc bạn thành công.

Số điện thoại tư vấn: 043.995.3167

 

Hạn chế mổ trong điều trị thoát vị đĩa đệm

Câu hỏi: Tôi bị đau thắt lưng lan xuống 2 chân hơn nửa năm nay, điều trị thuốc tây ở BV không khỏi nên chuyển sang châm cứu gan 1 tháng nhưng cũng không kết quả.

Có người giới thiệu tôi đi 1 ông thầy bó thuốc đông y và nắn xương khớp. Sau hơn 1 tháng giảm khoảng 70%. Xin hỏi tôi có hi vọng khỏi không hay nên chụp hình MRI rồi tiến hành mổ để giải thoát nỗi khốn khổ ? (Nguyen Nghia)

Trả lời:

– Khi anh bị đau vùng thắt lưng và có lan xuống hai chân thì có nhiều khả năng anh bị thoát vị đĩa đệm chèn ép rễ thần kinh.Sở dĩ chúng tôi dùng chữ “có thể” vì còn có nhiều nguyên nhân khác cũng có thể gây triệu chứng giống như vậy. Trong trường hợp này các BS sẽ tiến hành cho chụp MRI, đo điện cơ… để xác định chẩn đoán.

Nếu bị thoát vị đĩa đệm thì bao giờ cũng tiến hành điều trị bằng thuốc và các biện pháp vật lý trị liệu như các bài tập, kéo lưng, chiếu tia hồng ngoại… và thông thường thì có thể bớt đau dù khối thoát vị vẫn còn đó.

Chỉ định mổ chỉ đưa ra khi nào điều trị thuốc và các biện pháp hỗ trợ thất bại. Người ta hạn chế mổ là vì ngoài các biến chứng do mổ thì có một số người sau khi mổ vẫn còn bị đau mà không rõ nguyên nhân.

Trường hợp của anh đã đi điều trị và có giảm được 70% thì có nhiều khả năng sẽ có thể khỏi. Tuy nhiên điều quan trọng là anh phải tuân thủ đúng chế độ điều trị gồm các biện pháp thuốc, tập VLTL, kéo lưng, tránh các động tác gây đau lưng…(những điều nay anh sẽ được hướng dẫn khi đi khám tại khoa CTCH ở các BV và ở các khoa vật lý trị liệu).

Chú ý rằng nếu chỉ dựa vào thuốc không thì không đủ, quan trọng hơn là tập luyện. Chúc anh mau khỏi bệnh

Giảng viên, BS TĂNG HÀ NAM ANH – BV ĐH Y Dược cơ sở 1

Việt Báo (Theo_TuoiTre)

Bệnh thoái vị đĩa đệm đốt sống cổ

Đau vùng cổ là bệnh khá phổ biến, thường gặp ở những người trên 40 tuổi do nhiều nguyên nhân gây nên, trong đó thoát vị đĩa đệm cột sống cổ là nguyên nhân hay gặp.

>> Hậu quả nặng nề do thoát vị đĩa đệm cột sống cổ

>> Thoát vị đĩa đệm và những hậu quả khó lường

 Những tư thế nào gây thoát vị đĩa đệm cột sống cổ?

Bình thường cột sống cổ có 7 đốt sống, từ C1 đến C7. Giữa các đốt sống từ C2 trở xuống có các đĩa đệm. Mỗi đĩa đệm dày khoảng 3mm, được cấu tạo bởi các vòng sợi, mâm sụn và nhân nhầy. Khi cột sống di động nhân nhầy di chuyển làm giảm lực tỳ đề lên các đốt sống. Ở những người trên 40 tuổi, đĩa đệm bị thoái hóa, vòng sợi bị nứt rách gây thoát vị nhân nhầy ra khỏi giới hạn của các vòng sợi gọi là thoát vị đĩa đệm.

Thoát vị đĩa đệm có thể diễn ra từ từ trên cơ sở một đĩa đệm đã bị thoái hóa hoặc khởi phát đột ngột sau một động tác cúi, nghiêng hoặc ưỡn cổ quá mức, mạnh và đột ngột (động tác vặn cổ đột ngột trong một số bài massage, động tác gập, ưỡn có quá mức trong một số bài tập Yoga…).

 

Biểu hiện của thoát vị đĩa đệm cột sống cổ

Hầu hết là khởi hành từ từ, với biểu hiện đau mỏi và hạn chế vận động cột sống cổ, đau sau khi ngủ dậy, vận động vài động tác đỡ đau. Những trường hợp này bệnh thường diễn biến từng đợt. Tuy nhiên, có khoảng 15% bệnh khởi phát đột ngột, sau một sang chấn cúi hoặc ưỡn cột sống cổ quá mức. Tùy thuộc vào vị trí thoát vị đĩa đệm cột sống cổ (TTĐĐCSC) mà bệnh có thể có các biểu hiện khác nhau.

Đau, là triệu chứng đầu tiên của bệnh. Đau có thể khu trú ở vùng cổ hoặc vùng vai gáy lan lên chẩm. Đau rát, đau nông ở vùng cổ do rễ thần kinh chi phối, hoặc đau cơ vùng vai gáy. Đau tăng khi vận động cột sống cổ.

Đau vai gáy cấp tính hay vẹo cổ cấp: Đau vùng vai gáy một bên, thường xuất hiện sau khi ngủ dậy. Đau tăng khi ho hắt hơi. Nguyên nhân thường do lao động nặng hoặc bị lạnh gây nên tình trạng co cứng cơ đột ngột. Bệnh có thể khỏi sau vài ngày nhưng dễ tái phát.

Đau vai gáy mạn tính: đau âm ỉ, khi tăng khi giảm. Hạn chế vận động cột sống cổ khi gấp, duỗi, nghiêng, xoay, đôi khi có thể nghe thấy tiếng lạo xạo khi vận động quay cổ.

Ấn vào mỏm vai cột sống cổ thấy đau, có điểm đau cạnh cột sống cổ, co cứng cơ cạnh cột sống. Có tư thế giảm đau như: nghiêng đầu về một bên, vai bên đau nâng cao hơn bên lành. Đau tăng lên khi vừa ấn đầu bệnh nhân xuống vừa cúi, ngửa, xoay nghiêng cổ. Tầm vận động của cột sống cổ bị hạn chế.

Hội chứng rễ thần kinh cổ: Gặp ở 100% trường hợp thoát vị đĩa đệm cột sống cổ. Đau vùng gáy lan theo vị trí do rễ thần kinh chi phối. Thường gặp ở một bên. Tùy theo vị trí đĩa đệm bị thoát vị và rễ thành kinh chi phối mà đau có thể lan tới mỏm vai, cánh tay, cẳng tay, ngón tay, ngực vùng trước tim. Tương ứng với cá vùng có cảm giác đau, người bệnh có thể có biểu hiện yếu cơ delta, cơ nhịp đầu cánh tay, cơ duỗi các ngón tay, cơ gấp ngón tay và cơ bàn tay…

Lưu ý trong sinh hoạt khi bị thoát vị đĩa đệm cột sống cổ

Với những trường hợp cấp tính, cần nghỉ ngơi tuyệt đối (bất động 5 – 7 ngày đầu) Với những trường hợp không cấp tính, nên nghỉ ngơi tương đối: tránh những động tác làm bệnh nặng thêm như mang vác nặng, bẻ cổ, nên nằm nghỉ khi đau nhiều. Ngoài ra, có thể bất động cột sống cổ bằng đai cổ, để cổ trong tư thế thẳng. Tuy nhiên để tránh tình trạng phụ thuộc vào đai cổ phải kết hợp điều trị và tập luyện. Tuy nhiên để tránh tình trạng phụ thuộc vào đai cổ… kết hợp điều trị và tập luyện nhẹ nhàng theo phương pháp vật lý trị liệu.

Bệnh nhân thoát vị đĩa đệm bị chèn ép dây thần kinh nên dùng thêm Tê nhức chân tay Bảo Nguyên để hỗ trợ tình trạng tê buốt chân tay.

Theo Quỳnh Nga

Số điện thoại tư vấn: 043.995.3167

Bệnh thoát vị đĩa đệm tấn công giới làm văn phòng

Giới áo đầm, cổ cồn cũng có nguy cơ bị thoát vị đĩa đệm, bệnh tưởng chỉ “kết” người phải mang vác nặng, làm việc chân tay nhiều, người hay chơi thể thao.

Ngồi lâu một tư thế, đổi tư thế đột ngột là lỗi phổ biến, gây thoát vị đĩa đệm

Dấu hiệu nhận biết đầu tiên thường là đau lưng, đau cổ lan xuống vai, tê mỏi chân tay, háng, rồi theo thời gian sẽ diễn tiến xuống chân hay rối loạn vận động cảm giác phần thân dưới. Có thể nói, thoát vị đĩa đệm chẳng kiêng dè độ tuổi nào.

Trong khi những người thuộc nhóm ngành nghề khác thường bị thoát vị đĩa đệm do tai nạn lao động, phải mang vác nặng, té ngã, chấn thương hay do tuổi tác thì nhân viên văn phòng lại chủ yếu do ngồi một chỗ trong nhiều tiếng đồng hồ liên tục, không vận động.

Họ cũng thường hay dư cân, bụng to. Những điều này làm đĩa đệm giữa hai đốt sống bị tăng áp lực, dễ thoát vị ra phía ngoài, chèn vào các rễ thần kinh tủy sống và gây đau đớn.

Hầu hết bệnh nhân thoát vị đĩa đệm bắt đầu điều trị bằng phương pháp vật lý trị liệu và dùng thuốc, trừ khi có tổn thương quá nặng, có liệt chân, tay – phải can thiệp ngoại khoa ngay. Việc điều trị bảo tồn này có thể kéo dài từ 3 đến 6 tháng.

 

Tổn thương do thoát vị đĩa đệm cột sống cổ

Thoát vị đĩa đệm cột sống cổ cùng với hội chứng đau các rễ thần kinh đều có nguồn gốc cơ bản do thoái hóa đĩa đệm – cột sống cổ, thường được gọi chung là “Hội chứng cổ – cánh tay”.

>> Hậu quả nặng nề do thoát vị đĩa đệm cột sống cổ

>> Thoát vị đĩa đệm và những hậu quả khó lường

Thoát vị đĩa đệm cột sống cổ tuy có tỷ lệ thấp hơn thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng nhưng lại đóng vai trò rất hệ trọng vì nó trực tiếp uy hiếp tủy sống cổ và chẹn đường đi của hệ động mạch đốt sống – thân nền bảo đảm nuôi dưỡng não bộ (đại não, tiểu não…). Không những thế, hệ thần kinh thực vật ở vùng này lại được phân bố rất phong phú và tiếp xúc rất khăng khít với hệ động mạch sống – nền bởi hai chuỗi hạch giao cảm cổ cũng bị tác động.

Sau đây là một số biểu hiện thường gặp do thoát vị đĩa đệm cột sống cổ

Hội chứng cổ – cánh tay là gì?

Hội chứng cổ – cánh tay là hội chứng đau do đĩa đệm của đoạn cột sống cổ đoạn C5-C7, có đặc điểm là đau và rối loạn cảm giác khởi phát từ cột sống cổ lan tới chi trên, ít nhiều mang tính chất phân bố thần kinh theo dải. Phần lớn có kèm các triệu chứng của hội chứng cổ cục bộ. Tùy theo phần nào của nhánh thần kinh bị xâm phạm mà có những biểu hiện đau, rối loạn cảm giác và vận động tương ứng. Ở giai đoạn đầu, xuất hiện các triệu chứng pha trộn đau gáy với sai lệch tư thế. Trên cơ sở của đau lan theo dọc dải da bị xâm phạm, đồng thời cũng xuất hiện rối loạn cảm giác ở vùng này. Trường hợp có chèn ép lớn thì bị giảm cảm giác nông (cảm giác tê bì) theo dải da, còn phầnlớn khi các nhánh, rễ thần kinh bị kích thích lại thấy biểu hiện vùng dải da tăng cảm giác nông.

Người bệnh có cảm giác căng và sưng bàn tay, mà khách quan không thể nhận biết được, lại thường kèm theo tím tái đầu chi và lạnh chân tay, chứng tỏ có thêm rối loạn thần kinh giao cảm. Có thể hạn chế vận động vai, nhưng không phải là do viêm quanh khớp bả vai – cánh tay.

Teo cơ thường phát hiện thấy ở khu vực trên vai, cơ Delta và các cơ thuộc khu vực cánh tay, cẳng tay, có khi cả ở bàn tay, tùy theo phạm vi và mức độ tổn thương. Hội chứng cổ – cánh tay có thể xuất hiện theo nhiều kiểu. Hội chứng cổ – cánh tay thường do thoát vị đĩa đệm cột sống cổ (loại mềm) và do cấu trúc xương (chồi xương do thoái hóa) của mỏm móc của đốt sống (còn được gọi là “thoát vị cứng”).

Đau cánh tay do lồi và thoát vị đĩa đệm

 
Thoát vị đĩa đệm cột sống cổ gây đau.

Lồi đĩa đệm hay thoát vị đĩa đệm cổ là do một tác nhân gây chèn ép “mềm” các rễ thần kinh, ít gặp hơn so với cùng loại ở cột sống thắt lưng. Lồi đĩa đệm cổ thường gặp ở vị trí sau – bên chèn ép rễ thần kinh, gây đau, tư thế sai lệch cột sống cổ và những thiếu hụt thần kinh. Lồi đĩa đệm là do vòng sợi bị nhân nhầy trồi ra ở điểm yếu nhất làm rách đứt một số lớp của vòng sợi, tức là vòng sợi chưa bị chọc thủng hoàn toàn. Trên cơ sở của thoái hóa đĩa đệm, lồi đĩa đệm kéo dài, vòng sợi đĩa đệm đã bị suy yếu dưới tác động của tải trọng quá nặng, không cân đối, hay do tư thế vận động cột sống cổ bất lợi, vượt quá giới hạn của trường – vận động hoặc chấn thương nhân nhầy chọc thủng vòng sợi và thoát ra ngoài khoang đĩa, gây thoát vị đĩa đệm cổ. Do sức căng phồng của đĩa đệm ở người trẻ chưa bị suy giảm như ở người cao tuổi nên thoát vị đĩa đệm thường xảy ra ở tuổi 30-45. Các triệu chứng xuất hiện cấp tính: đau cánh tay theo dải da thuộc vùng rễ thần kinh bị xâm phạm, tư thế sai lệch mạnh mẽ của đầu và cột sống cổ bao giờ cũng ở tư thế gù. Ho, hắt hơi đều làm đau tăng lên. Chỉ có chụp tủy cổ hay chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ mới xác định chẩn đoán chính xác thoát vị đĩa đệm.

Đau cánh tay do chồi xương ở mỏm móc

Do đặc điểm sinh – cơ học của đĩa đệm cột sống, quá trình thoái hóa theo tuổi phát triển dần dần, tới tuổi 50 thì đã hình thành các gai xương ở thân đốt và chồi xương ở mỏm móc. Trong quãng tuổi đời đó nếu có các yếu tố ngoại lai (chấn thương, viêm nhiễm, tư thế bất lợi không sinh lý do nghề nghiệp hay phong cách sinh hoạt, thì sẽ làm tăng tốc độ thoái hóa, thậm chí cột sống cổ nhiều em ở tuổi thiếu niên đã có biểu hiện thoái hóa nặng nề trên phim Xquang. Điều đó nói lên vai trò quan trọng của dự phòng bệnh lý cột sống cổ.

Trên lâm sàng, đau cánh tay do kích thích rễ thần kinh bởi chồi xương ở mỏm móc thường gặp nhiều hơn là do thoát vị đĩa đệm. Chồi xương mỏm móc chĩa vào lỗ liên đốt gây hẹp lòng lỗ liên đốt  còn xơ hóa đĩa đệm hạn chế biên độ vận động cột sống cổ thì chưa có biểu hiện các triệu chứng của hội chứng cổ – cánh tay.

Sự phối hợp của hai yếu tố lỏng lẻo đoạn vận động cột sống cổ với các gai xương là nguồn gốc phát sinh hội chứng lâm sàng đồng thời cũng là mục tiêu giải quyết của các biện pháp dự phòng và điều trị hội chứng cổ – cánh tay. Ở đây, các triệu chứng xuất hiện từ từ và không mạnh mẽ như trong lồi và thoát vị đĩa đệm. Biểu hiện đau về đêm, cảm giác kiến bò và tê bì dải da tương ứng thuộc các rễ thần kinh bị xâm phạm nên còn mang thuật ngữ “chứng đau cánh tay về đêm”.

Ngoài ra, ở đoạn cột sống cổ, tùy theo mức độ của tác nhân gây bệnh vào các rễ thần kinh tủy cổ (kích thích, chèn ép) sẽ xuất hiện hội chứng đau rễ thần kinh – một rễ hoặc nhiều rễ, phần lớn ở một bên, có khi ở cả hai bên.

Điều trị như thế nào?

Điều trị chung: Các biện pháp giảm đau và chống viêm (thuốc, châm cứu, xoa bóp nhẹ nhàng vùng cổ và tay); các loại thuốc an thần, trấn tĩnh thần kinh và thư giãn cơ; các loại thuốc hoạt huyết và chống thoái hóa thần kinh.

Điều trị theo nguyên nhân là chủ yếu: Các hội chứng bệnh lý này đều do cơ chế bệnh sinh cơ học. Do đó tùy theo tác nhân gây bệnh (loại cứng hay mềm), mức độ gây tổn thương (kích thích hay chèn ép) và tính chất nguy hại của cơ quan hay các thành phần liên quan (tủy sống, động mạch sống hay các rễ thần kinh) để có biện pháp điều trị thích hợp.

Nếu chỉ là kích thích hay chèn ép nhẹ thì điều trị bảo tồn là chủ yếu: giai đoạn đau cấp tính thì phải cho bất động cột sống cổ bằng đai cổ. Sau đó nếu cần thì kéo giãn cột sống cổ kết hợp với đai cổ.

Nếu chèn ép nặng vào tủy sống cổ và mạch máu thần kinh thì phải can thiệp phẫu thuật giải phóng bộ phận bị chèn ép càng sớm càng tốt. Trước khi chỉ định kéo giãn cột sống cổ phải chụp Xquang để loại trừ các loại bệnh lý khác của cột sống – tủy sống. Trước khi phẫu thuật, bệnh nhân cần được chụp cắt lớp vi tính hay cộng hưởng từ.

Điều trị phục hồi chức năng và dự phòng tái phát

Sau khi bệnh đã được xử trí cơ bản, cần tiếp tục liệu trình điều trị phục hồi chức năng (vật lý trị liệu, xoa bóp, vận động liệu pháp) tại cơ sở chuyên khoa. Để dự phòng tái phát cần sinh hoạt hợp lý, xác định ngành nghề thích hợp, tránh chấn thương vào đầu và cổ. Khi phải sử dụng cột sống cổ trong thơi gian dài cần đeo đai cổ.

Số điện thoại tư vấn: 043.995.3167

 

Hậu quả nặng nề do thoát vị đĩa đệm cột sống cổ

Cột sống cổ thường xuyên phải chịu áp lực trọng tải của đầu với trường vận động rộng và linh động nhất của cơ thể nên dễ bị thoái hóa. Thoái hóa không phải là một bệnh mà là quá trình biến đổi sinh học của con người nhưng nếu không được phát hiện sớm và điều trị tại cơ sở chuyên khoa sẽ để lại những hậu quả nặng nề.

>> Thoát vị đĩa đệm cột sống và những di chứng

>> Phát hiện sớm bệnh gù lưng ở trẻ em

Thoát vị đĩa đệm – hậu quả của quá trình thoái hóa đĩa đệm? 

 
Nhân nhầy chảy ra ngoài do thoát vị đĩa đệm.

Đĩa đệm là một khoang giữa 2 đốt sống gồm vòng sợi, nhân nhầy và mâm sụn của 2 đốt sống trên và dưới. Vòng sợi chứa một chất dịch cơ bản, được nuôi dưỡng bởi sự trao đổi chất giữa trong và ngoài đĩa đệm qua các lớp của vòng sợi được xem như màng bán thấm. Đĩa đệm không có mạch máu nuôi dưỡng riêng mà chỉ được tưới máu theo phương thức khuếch tán. Bởi vậy, khi cột sống không chuyển động, ở tư thế không đổi quá lâu sẽ tạo nên sự ngưng trệ trao đổi chất nuôi dưỡng nên dần dần sẽ bị thoái hóa. Thoái hóa đĩa đệm làm mất khả năng căng phồng để chống đỡ và phân bố lực ép nén ra toàn đĩa đệm. Hậu quả cuối cùng là đĩa đệm xẹp, rách, nứt tạo đường cho nhân nhầy luồn thoát ra ngoài vòng sợi, gây chèn ép hàng loạt các tổ chức liền kề như mạch máu (động mạch sống), các rễ thần kinh, các sợi thần kinh từ tủy chạy ra chui qua lỗ tiếp hợp. Nhiều lỗ tiếp hợp của mỗi đốt sống liên kết với nhau tạo thành một ống xương. Trường hợp khối thoát vị lớn và nhiều tầng sẽ lấn vào trong ống sống làm hẹp ống sống và chèn ép luôn tủy sống. Bình thường đường kính trước- sau của ống sống, đoạn giữa cột sống cổ là 15mm, nếu nhỏ hơn số đó được coi như hẹp ống sống.

Thoát vị đĩa đệm cột sống cổ gây nên hậu quả gì?

Thoát vị đĩa đệm (TVĐĐ) chèn ép động mạch sống gây nên tình trạng thiếu máu nuôi dưỡng não, hình thành “hội chứng thiếu máu não cục bộ sau những cơn thiếu máu não cục bộ tạm thời liên tiếp. TVĐĐ chèn ép cả hệ thần kinh giao cảm cổ, gây nên hội chứng giao cảm cổ sau rất phức tạp về triệu chứng lâm sàng như đối với tim và các nội tạng khác. TVĐĐ chèn ép các rễ thần kinh chạy từ tủy sống ra để chi phối thần kinh cho các khu vực đai vai và hai tay. TVĐĐ chèn ép rễ thần kinh cổ 2, 3 gây đau dây thần kinh chẩm lớn ở phía sau đầu. Tủy sống bị chèn ép sẽ gây rối loạn vận động tay chân. Trường hợp TVĐĐ lớp, nhiều tầng còn gây nên liệt nửa người hoặc liệt hai chân.

Biểu hiện đặc trưng của TVĐĐ 

 
 Thoát vị đĩa đệm cột sống cổ gây rối loạn vận động ở tay.

TVĐĐ cột sống cổ thường gặp là TVĐĐ ở vị trí sau – bên nên gây chèn ép rễ thần kinh, gây đau đớn với tư thế sai lệch cột sống cổ. Do bị chèn ép nên có thể đau một rễ hay nhiều rễ, phần lớn ở một bên, có khi ở cả hai bên cổ trong hội chứng đau rễ thần kinh cổ. Ngoài ra, TVĐĐ còn gây nên hội chứng tủy sống, là biến chứng quan trọng nhất do cột sống cổ bị chèn ép. Bệnh tiến triển từ từ, thường dễ bỏ qua vì có nhiều triệu chứng của những tổn thương cấu trúc khác che khuất. Trong giai đoạn quá độ chuyển sang mạn tính, người bệnh bị rối loạn dáng đi và thất điều (thất điều là rối loạn vận động do khả năng phối hợp vận động các động tác giữa các cơ ở chi dưới gây tổn thương hai bó dọc sau của tủy sống chèn ép).

Chẩn đoán TVĐĐ dựa trên các xét nghiệm cận lâm sàng như chụp Xquang, chụp tủy cản quang, chụp cộng hưởng từ…

Điều trị và dự phòng TVĐĐ cột sống cổ

Điều trị: Khi đã xác định bệnh, người bệnh cần được điều trị bảo tồn nội khoa đúng cách như sử dụng các loại thuốc chống viêm, giảm đau, giãn cơ, chống thoái hóa rễ – dây thần kinh, điều hòa tuần hoàn não, trấn tĩnh thần kinh…  điều trị bằng các phương pháp trấn tĩnh tại chỗ, đeo đai cổ, kéo giãn cột sống cổ tại cơ sở chuyên khoa. Bên cạnh đó, người bệnh còn có thể được điều trị bằng phẫu thuật khi điều trị nội khoa không có kết quả. Phẫu thuật sẽ mang lại hiệu quả tốt khi giải phóng được yếu tố chèn ép. Điều trị phục hồi chức năng tại cơ sở chuyên khoa.

Dự phòng: Có phong cách sinh hoạt đúng: tránh ngồi cúi gấp cổ quá lâu. Cần có bản tựa đầu và lưng, nhất là khi ngồi tàu xe đường dài. Tránh các động tác vận động cổ đột ngột và quá mạnh. Bàn ghế làm việc phải thích hợp, tránh dùng bàn quá thấp, ngồi lâu ở tư thế không đổi. Khi nằm, tránh để tư thế quá ưỡn hoặc cúi gấp cổ. Cần có gối đầu với độ dày thích hợp. Đối với nghề nghiệp buộc phải ở tư thế bất lợi, cần có thời gian nghỉ sau 1 – 2 giờ bằng cách vận động cột sống cổ và lưng nhẹ nhàng về các phía. Tránh các chấn thương vào đầu và cột sống cổ. Các nghề buộc phải dùng đầu đội vật nặng được coi như vi chấn thương đều làm tăng tốc độ quá trình thoái hóa cột sống cổ rồi sẽ dẫn tới TVĐĐ cột sống cổ.

PGS. Vũ Quang Bích

Số điện thoại tư vấn: 043.995.3167